Ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản

07/08/2023

Bà Nguyễn Thị A có nhu cầu tư vấn: Bà T thiếu nợ tôi 600 triệu đồng từ lâu, vụ việc đã được tòa án xét xử tuyên buộc bà phải trả nợ gốc và lãi cho tôi tổng cộng 643 triệu đồng. Bà T kháng cáo và trong thời gian chờ tòa án cấp phúc thẩm xét xử thì bà đã chuyển quyền sử dụng đất cho con gái. Bà T muốn tẩu tán tài sản, tôi phải làm sao để ngăn cản bà T chuyển quyền sử dụng đất cho con gái nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án (THA)?

Thắc mắc của bà được luật sư Võ Tấn Thành (Đoàn Luật sư Bến Tre) tư vấn như sau:

- Theo quy định tại Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015: Biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) sẽ được tòa án áp dụng khi đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có đơn yêu cầu hoặc tòa án xét thấy cần thiết phải thực hiện các biện pháp này. Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn người có nghĩa vụ nhằm giải quyết các yêu cầu cấp bách của đương sự như bảo vệ tài sản, bảo toàn tình trạng hiện có của tài sản, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc THA.

Mặt khác, Điều 114 BLTTDS quy định về các BPKCTT gồm: 1) Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. 2) Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng… 6) Kê biên tài sản đang tranh chấp. 7) Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp. 8) Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp… 17) Các BPKCTT khác mà luật quy định.

Luật quy định, BPKCTT được tòa án áp dụng khi thỏa mãn các điều kiện như sau: Có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản đang gửi người khác giữ; việc phong tỏa tài sản đó là cần thiết để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc THA.

Tùy theo yêu cầu áp dụng BPKCTT mà người yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp tạm thời phải cung cấp cho tòa án các chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp tạm thời đó.

Ngoài ra, người yêu cầu tòa án áp dụng một trong các BPKCTT theo quy định tại Khoản 6, 7, 8, 10, 11, 15 và 16 Điều 114 BLTTDS phải nộp cho tòa án chứng cứ bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá trị do tòa án ấn định, nhưng phải tương ứng với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng BPKCTT không đúng để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng BPKCTT và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT từ phía người có quyền yêu cầu (Khoản 1, Điều 136 BLTTDS).

Ngoài ra, tại Khoản 1, 2 Điều 13 Nghị quyết số 02/2020/NQHĐTP ngày 24-9-2020 của hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: 1) Thẩm phán hoặc hội đồng xét xử chỉ ra quyết định áp dụng BPKCTT khi người yêu cầu đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng hoặc quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm của thẩm phán hoặc hội đồng xét xử có hiệu lực thi hành ngay. 2) Thẩm phán, hội đồng xét xử dự kiến và tạm tính có tính chất tương đối thiệt hại thực tế có thể xảy ra, nhưng không thấp hơn 20% giá trị tạm tính của tài sản bị áp dụng BPKCTT.

Căn cứ vào các quy định của pháp luật nêu trên, bà có thể làm đơn yêu cầu tòa án đang thụ lý vụ án ra quyết định áp dụng BPKCTT và phải thực hiện biện pháp bảo đảm theo quy định tại Khoản 1, Điều 136 của bộ luật này.

Theo baodongkhoi.vn